sponsor

sponsor

Slider

Recent Tube

Business

Technology

Life & style

Games

Sports

Fashion

“Cần cơ chế và chính sách thu hút nhiều nhà đầu tư có năng lực”

Tại hội thảo “Tp.HCM và khát vọng vươn lên” diễn ra vừa qua, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội bất động sản Tp.HCM (HoREA) đã đưa ra nhiều ý kiến đóng góp xung quanh chủ đề chỉnh trang và phát triển đô thị liên quan đến định hướng - mục tiêu và sự phát triển bền vững của thị trường bất động sản Tp.HCM.

Theo ông Châu, hiện tại thành phố có trên 10 triệu dân (dự kiến đến năm 2020 sẽ có 12 triệu người, tốc độ tăng dân số cơ học 2,5%/năm cao hơn tốc độ tăng dân số tự nhiên 1,07%/năm) với hơn 1,8 triệu hộ gia đình và gần 3 triệu người nhập cư.
Trong đó, có khoảng 200.000 cán bộ công chức, viên chức, cán bộ lực lượng vũ trang và khoảng 50.000 cặp kết hôn mới mỗi năm, cũng như hơn 20.000 hộ dân sống trong các khu nhà lụp xụp trên và ven kênh rạch hoặc trong các chung cư hư hỏng nặng có nhu cầu cấp bách về cải thiện nhà ở, thuê nhà, tạo lập nhà ở, nhất là nhà ở xã hội, nhà ở tái định cư, nhà ở thương mại quy mô vừa và nhỏ 1-2 phòng ngủ, có giá bán vừa túi tiền. 
Tp.HCM cần có cơ chế và chính sách thu hút nhiều nhà đầu tư có năng lực
để thực hiện các dự án chỉnh trang đô thị.
Theo Chủ tịch Hiệp hội, trong hơn 20 năm phát triển, thị trường bất động sản Tp.HCM đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, đặc biệt là đỉnh điểm bong bóng bất động sản năm 2007, 2010 và giai đoạn thị trường bị đóng băng kéo dài từ năm 2008 đến 2013, với hậu quả nghiêm trọng mà đến nay vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn. Do vậy, chỉ khi nào thị trường bất động sản phát triển theo hướng bền vững thì mới thực sự góp phần xây dựng thành phố có chất lượng sống tốt. Hơn nữa, ngày nay đòi hỏi của người dân không chỉ là có chỗ ở mà là một không gian sống ngày càng hoàn hảo, có nhiều tiện ích, tiết kiệm điện, sử dụng năng lượng tái tạo, thân thiện môi trường, an ninh và an toàn, mà các doanh nghiệp bất động sản phải đáp ứng nhu cầu rất đa dạng này. 
“Đây là thách thức lớn nhất vì nhu cầu cao trong khi nguồn cung có hạn, đòi hỏi phải có cơ chế, chính sách phù hợp và sự nỗ lực phối hợp hiệu quả của chính quyền thành phố, quận, huyện, cộng đồng doanh nghiệp bất động sản cũng như hệ thống tín dụng, vận hành trên cơ sở hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý minh bạch, thông thoáng và bình đẳng”, ông Châu nhấn mạnh.
Sau khi đưa ra các nhận định trên, ông Châu đề xuất: Hiện nay, thành phố có khoảng 200 chung cư cũ, phần lớn được xây dựng từ giữa những năm 1960 và đã có nhiều chung cư bị hư hỏng nặng cần phải được xây dựng lại, mà điển hình là việc xây dựng và tái định cư chung cư Nguyễn Kim, chung cư lô IV, lô VI Thanh Đa. Do đó, thành phố cần có cơ chế và chính sách thu hút nhiều nhà đầu tư có năng lực để thực hiện các dự án chỉnh trang các khu chung cư cũ, chỉnh trang theo từng ô phố, khối phố để phát triển các khu nhà cao tầng, tăng thêm cây xanh, đường giao thông và độ thông thoáng trên mặt đất đảm bảo quyền lợi của cư dân trong các khu vực được chỉnh trang.
Phương Nga
(Theo Nhịp sống thời đại)

Hiệu quả khai thác BĐS đang tốt nhất trong 20 năm qua?

Ông Phạm Thanh Hưng, Phó chủ tịch HĐQT Tập đoàn CEN Group khẳng định: "Hơn 20 năm qua tôi chưa bao giờ thấy bất động sản có hiệu quả khai thác tốt đến như vậy. Đây là thời điểm tuyệt vời để người mua nhà để ở hay người đầu tư dài hạn tham gia thị trường".

Đó là nhìn nhận của nhiều chuyên gia, doanh nghiệp BĐS tại buổi Tọa đàm trực tuyến "Cơ hội đầu tư bất động sản trong bối cảnh mới" được tổ chức tại Hà Nội vào sáng nay (18/5).
Dưới góc nhìn của người trực tiếp bán các sản phẩm BĐS, ông Phạm Thanh Hưng, Phó chủ tịch HĐQT Tập đoàn CEN Group nhận định, có 3 yếu tố đánh giá mức độ thị trường đã nóng hay chưa.
Một là, đó là khả năng tiếp cận của người tiêu dùng. Sự biến động về giá của nhóm sản phẩm mục tiêu của các đối tượng khách hàng thay đổi không lớn.
Hai là, việc tham gia của giới đầu tư lướt sóng ngắn hạn hy vọng bán lại cho người tiếp theo có mức giá cao hơn là rất ít và hiện nay người mua nhà vẫn còn nhận được rất nhiều chính sách khuyến mại giảm giá trực tiếp từ chủ đầu tư.
Ba là, “tỷ số P/E” - hiệu quả sinh lời của BĐS trên giá giao dịch được đánh giá là rất tốt. Hiệu quả khai thác khá tuyệt vời trên trị giá giao dịch hiện nay đã đạt 5-6% ở Hà Nội, 6-7% ở Tp.HCM, đối với BĐS nghỉ dưỡng và du lịch có thể đạt 10-12%.
Ông Hưng khẳng định: "Hơn 20 năm qua tôi chưa bao giờ thấy có hiệu quả khai thác tốt đến như vậy. Đây chính là thời điểm tuyệt vời để người mua nhà để ở hay người đầu tư dài hạn tham gia thị trường".
Ông Michael Piro, Giám đốc điều hành Indochina Land
Trong khi đó, ông Michael Piro, Giám đốc điều hành Indochina Land cho rằng, thị trường hiện tại đã tốt lên và không có hiện tượng bong bóng.
Với kinh nghiệm ban đầu là dẫn dắt đội ngũ bán hàng, ông có dịp tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và hiểu rất rõ tâm lý và nhu cầu của họ. Có sự khác biệt lớn khi so sánh hiện tại với thời điểm BĐS sốt nóng. Thời điểm thị trường nóng, khách hàng đầu tư dàn trải không quá kỹ lưỡng, còn ngày nay, nhà đầu tư dành nhiều thời gian tìm hiểu kỹ chủ đầu tư, dự án, các gói hỗ trợ hấp dẫn cho họ.
Còn một điểm đáng chú ý nữa là ở thời điểm từ 2007 đến 2009 có rất nhiều tổ chức, công ty, mà lĩnh vực kinh doanh chính của họ không phải là BĐS đã nhìn thấy những cơ hội hấp dẫn tại thị trường này, bắt đầu “lấn sân”. Nhưng sau một thời gian cạnh tranh khốc liệt có lẽ họ đã nhận ra rằng, BĐS không phải là lĩnh vực dễ thu lời như họ nhận định.
Cũng dành một sự lạc quan lớn cho thị trường BĐS, bà Đỗ Thị Thu Hằng, Phó giám đốc Savills Hà Nội cho hay, thị trường 2015 nhìn chung đã có những chuyển biến vô cùng tích cực, nhất là ở hạng mục căn hộ để bán trên hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp.HCM.
Bà Đỗ Thị Thu Hằng, Phó giám đốc Savills Hà Nội
Tính riêng trong 2015, tại Hà Nội có lượng giao dịch khoảng 30.000 căn hộ. Trong những tháng đầu năm 2016, thị trường BĐS vẫn duy trì hoạt động tích cực so với lượng giao dịch cao của quý I/2015, mặc dù có giảm so với quý IV/2015.
Tuy thị trường đã đón nhận nhiều các thông tin liên quan đến nội dung siết tín dụng vào bất động sản trong bản dự thảo sửa đổi Thông tư 36 trong quý I/2016, nhưng điều này chưa ảnh hưởng nhiều đến thị trường bởi lẽ rất nhiều dự án vẫn mở bán theo kế hoạch.
Còn về giá bán, hiện tại giá vẫn đang ổn định, người mua vẫn có khá nhiều sự lựa chọn trên thị trường.
(Theo Bizlive) 

Thời cơ đang đến cho đầu tư bất động sản tại Việt Nam

Hiện nay, với sự tăng trưởng kinh tế cùng sự thay đổi trong các chính sách đầu tư bất động sản cho người nước ngoài, nhiều chuyên gia cho rằng đây là thời điểm thích hợp để đầu tư vào bất động sản Việt Nam.

Bà Nguyễn Ngọc Trâm, Trưởng phòng Nghiên cứu Thị trường, JLL Vietnam đã có buổi trảo đổi cụ thể với báo chí xoay quanh vấn đề này.

- Bà nhận định thế nào về quan điểm giai đoạn hiện tại đang là cơ hội tốt dành cho các nhà đầu tư bất động sản nước ngoài tại thị trường Việt Nam?
Chưa thể khẳng định đây có phải là thời điểm thích hợp để đầu tư vào thị trường bất động sản hay không vì theo tôi việc đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức cũng như sự am hiểu thị trường của mỗi nhà đầu tư. Tuy nhiên, Việt Nam đang thể hiện nhiều cơ hội cho việc đầu tư phát triển bất động sản. Đã có một số thay đổi tích cực đối với cơ cấu pháp lý liên quan đến hoạt động mua bán sáp nhập, nhờ đó thu hút được nhiều chủ đầu tư và nhà phát triển nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam, cũng như chính sách cho phép người nước ngoài mua và sở hữu tài sản nhà ở tại Việt Nam. Các quyền của người nước ngoài đối với tài sản cũng tương tự như quyền của người dân trong nước, đó là tài sản có thể được cho thuê, bán, thừa kế và thế chấp cho vay. 
Bên cạnh đó, thời gian sở hữu sẽ là 50 năm và sau đó có thể gia hạn thêm 50 năm nữa, có thể so sánh được với các thị trường khác như Indonesia, Thái Lan và Philippines. Môi trường chính trị an toàn, cùng với tăng trưởng kinh tế ổn định là những lợi thế của thị trường Việt Nam. Vì vậy, tôi cho rằng các nhà đầu tư bất động sản nước ngoài có thể cân nhắc và xem xét Việt Nam như một thị trường mới để đầu tư.
- Xin bà cho biết đầu tư từ nước ngoài vào thị trường bất động sản Việt Nam có tăng lên không kể từ thời điểm chính sách cho phép người nước ngoài sở hữu tài sản tại Việt Nam có hiệu lực vào tháng 7 năm ngoái?
Từ thời điểm chính sách cho phép người nước ngoài mua nhà tại Việt Nam chính thức có hiệu lực, số lượng yêu cầu tìm hiểu thông tin mua căn hộ cũng như các giao dịch từ khách mua nước ngoài đã tăng lên đáng kể. Gần đây, JLL đã thực hiện một chiến dịch quảng bá quốc tế về các dự án nhà ở tại Việt Nam và đã nhận được rất nhiều sự quan tâm cũng như phản hồi tích cực từ các nhà đầu tư nước ngoài đến từ Singapore, Hồng Kong và Nhật Bản.
Bà Nguyễn Ngọc Trâm, Trưởng phòng Nghiên cứu Thị trường, JLL Vietnam ủng hộ quan
điểm cho rằng thời cơ đầu tư bất động sản tại Việt Nam đang đến
Một số chủ đầu tư tại Tp.HCM cho biết rất nhiều khách mua nước ngoài tích cực quan tâm đến dự án của họ nhưng không còn lượng căn hộ dành cho khách mua nước ngoài vì có sự giới hạn nhất định về tỉ lệ người nước ngoài sở hữu bất động sản trên từng dự án. Số lượng khách mua nước ngoài đã đạt đến hơn 1.000 căn hộ, so với con số vài trăm trước khi chính sách mới được ban hành.
- Hà Nội và Tp.HCM là hai thành phố chủ chốt cho sự phát triển hiện nay. Theo bà, phân khúc bất động sản nào đang hoạt động sôi nổi nhất trong thời điểm hiện tại, cả về phía đầu tư và phát triển dự án? 
Những nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tìm kiếm những bất động sản đang hoạt động hoặc tìm cách liên doanh với các đối tác có danh tiếng tốt. Các nhà đầu tư trong nước ưu tiên vào việc mua đất phát triển dự án. Có thể nói tất cả các phân khúc trên thị trường đều sẽ được quan tâm xem xét. Tuy nhiên, tôi cho rằng phân khúc nhà ở và văn phòng sẽ gây được nhiều sự chú ý nhất với nhà đầu tư cũng như chủ đầu tư tại thị trường Tp.HCM và Hà Nội.
- Ngoài Hà Nội và Tp.HCM, còn khu vực nào khác tại Việt Nam mà bà nhận thấy có tiềm năng, cụ thể là đối với phân khúc bất động sản nghỉ dưỡng và du lịch?
Hiện nay, phân khúc khách sạn và nghỉ dưỡng thu hút rất nhiều sự quan tâm và dự báo xu hướng sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới. Nhìn chung phân khúc nghỉ dưỡng tại thị trường Việt Nam vẫn còn non trẻ so với các quốc gia khác trong khu vực; vì vậy, nhà đầu tư và khách mua nhà có thể thấy được tiềm năng phát triển mạnh trong tương lai. Về mặt vị trí, tôi tin rằng Phú Quốc, Nha Trang và Đà Nẵng là những thành phố có tiềm năng thu hút được nhiều khách nước ngoài, vì đây là những địa điểm du lịch nổi tiếng với du khách quốc tế với những bãi biển xinh đẹp và rất nhiều khu nghỉ dưỡng và khách trải dài đường ven biển.
- Thách thức chính mà thị trường bất động sản Việt Nam phải đối mặt trong thời điểm hiện tại là gì? Bà có dự báo như thế nào về thị trường trong ngắn hạn và trung hạn?
Việt Nam đã tiến được rất xa trong vòng năm đến mười năm trở lại đây. Nhìn chung phản hồi từ các nhà đầu tư vẫn không thay đổi. Thiếu tính minh bạch, quan liêu, tham nhũng, hệ thống pháp lý thiếu hiệu quả, nhiều vấn đề liên quan đến tiền đền bù và giải phóng mặt bằng, quyền sử dụng đất và quá trình thương thảo với các đối tác trong nước là những thách thức phổ biến mà hiện tại họ đang phải thường xuyên đối mặt. Tuy nhiên, vẫn có nhiều cơ hội để vượt qua những thách thức này và chúng tôi hy vọng sắp tới môi trường đầu tư tại Việt Nam sẽ được cải thiện hơn. 
Như tôi đã đề cập, thị trường bất động sản Việt Nam sẽ tiếp tục xu hướng tăng trong vòng hai đến ba năm tới cả về cung và cầu đối với thị trường nhà ở, văn phòng và khách sạn nghỉ dưỡng. Giá bán của phân khúc nhà ở được dự báo sẽ tăng khoảng 1-2% mỗi quý. Đối với phân khúc văn phòng cao cấp, mức giá thuê được dự báo sẽ tiếp tục tăng, từ 5% đến 10% trong những quý tới.
Phương Uyên
(Theo Tuổi trẻ online)

Giá BĐS sẽ vượt khả năng chi trả nếu tiếp tục bơm vốn

Ông Huỳnh Trung Minh, chuyên gia tài chính-ngân hàng cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động vốn tăng nhẹ những tháng vừa qua và việc Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục tăng lãi suất cơ bản đồng USD trong thời gian tới sẽ phần nào tạo áp lực lên lãi suất tiền đồng. Nhưng lãi suất sẽ khó tăng cao so với hiện nay, song khả năng dư nợ BĐS sẽ giảm.

- PV: Lãi suất đã tăng nhẹ trong những tháng đầu năm qua, vậy theo ông hiện có còn áp lực?
Ông Huỳnh Trung Minh
Ông Huỳnh Trung Minh: Mặt bằng lãi suất thời gian qua tương đối ổn định, đã tác động tích cực lên tăng trưởng tín dụng. Trong đó, lĩnh vực bất động sản (BĐS) được hưởng lợi nhiều nhất khi mặt bằng lãi suất giảm. Việc lãi suất giảm đã kích thích nhu cầu vốn tại thị trường này gia tăng, từ đó giúp tín dụng ngân hàng được tích cực. Nhưng lãi suất tiền đồng đã bắt đầu tăng nhẹ trong những tháng đầu năm 2016, một phần do áp lực tỷ giá trước các tác động bên ngoài như dự báo tiếp tục tăng lãi suất đồng USD trong thời gian tới của Fed.
Lãi suất khó có thể giữ nguyên mặt bằng hiện nay và khả năng sẽ nhích lên trong thời gian tới. Khi lãi suất tăng sẽ tác động đến nhu cầu vốn của khách hàng. Trong thời gian qua, lãi suất giảm xuống mức thấp, làm cho các khách hàng, đặc biệt là khách hàng cá nhân đã tăng vay để mua nhà, tuy nhiên nếu lãi suất tăng lên, chắc chắn họ sẽ cân nhắc việc vay mua nhà.
Đồng thời, phía NHNN đang có dự thảo sửa đổi Thông tư 36/2014/TT-NHNN về việc giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 60% xuống còn 40% và nâng hệ số rủi ro các khoản vay BĐS từ 150% lên 250% thì các ngân hàng cũng phải có sự điều chỉnh để đảm bảo đúng tỷ lệ yêu cầu.
Trong khi lượng cung căn hộ đã tăng mạnh trong thời gian qua khi thị trường ấm lên, còn các chủ đầu tư BĐS cũng đã đồng loạt đẩy mạnh hoạt động xây dựng từ chính nguồn vốn huy động được từ những người mua nhà.
- Vậy việc kiểm soát tín dụng BĐS trong thời điểm này là phù hợp, thưa ông?
Các ngân hàng hiện đang tập trung đẩy mạnh cho vay BĐS, đặc biệt là với các khách hàng cá nhân có nhu cầu về nhà ở. Hiện nay, nhu cầu này là rất lớn, nhất là tại những thành phố lớn như Hà Nội và Tp.HCM. Có thể thấy, nguồn cung BĐS cũng không phải là con số nhỏ, trong khi lượng tồn kho trên thị trường lớn, nhưng khả năng đáp ứng điều kiện tín dụng vay vốn mua nhà của khách hàng còn có phần hạn chế.
Hơn nữa, phân khúc sản phẩm của các chủ đầu tư BĐS tung ra không phải lúc nào cũng phù hợp với nhu cầu thị trường. Giá trị căn hộ quá sức so với nhu cầu của người mua, nói cách khác là cung-cầu chưa gặp được nhau. Do đó, nếu các chủ đầu tư tiếp tục vay vốn ngân hàng để đầu tư vào các dự án mà sản phẩm đầu ra giá trị cao vài tỷ đồng so với nhu cầu thực tế thị trường thì sẽ khó có thể tiêu thụ được.
Trong khi lãi suất ngân hàng được tính từng ngày sẽ gây áp lực lớn lên chủ đầu tư và dễ dẫn đến hiện tượng thị trường BĐS bị “xì hơi”. Khi ấy, không chỉ người mua nhà và chủ đầu tư mà cả ngân hàng cũng gặp khó.
Một khi nợ xấu tăng thì tình trạng khó khăn sẽ trở lại, vì vậy việc đưa ra cảnh báo sớm đối với thị trường BĐS không bao giờ là thừa. Bởi thị trường BĐS luôn gắn liền với nền kinh tế, một khi BĐS xảy ra “bong bóng” thì sẽ kéo theo khủng hoảng kinh tế và điều này đã từng xảy ra ở Việt Nam.
Như vậy khi lãi suất đầu vào tăng thì chắc chắn đầu ra sẽ khó ổn định trong thời gian tới?
Trên thực tế, lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm trong những tháng đầu năm bắt đầu nhích nhẹ, ngay cả đối với các ngân hàng lớn như BIDV hay Vietcombank, … đã có mức 7,5%/năm cho lãi suất huy động. Điều này cho thấy, mặt bằng lãi suất sẽ khó ổn định trong thời gian tới và một khi đầu vào tăng thì cho vay ra sẽ khó giữ nguyên. Nhưng tôi cho rằng, mức tăng không cao so với hiện nay, ngoại trừ các yếu tố bên ngoài tác động mạnh vào thị trường Việt Nam, đặc biệt là tỷ giá.
- Liệu dư nợ BĐS, kể cả mua nhà sẽ giảm khi lãi suất có biến động không, thưa ông?
Trong thời gian tới, nếu lãi suất tăng cũng chỉ tăng nhẹ. Nhưng khả năng tăng trưởng tín dụng BĐS cũng có tác động nếu dự thảo sửa đổi Thông tư 36 sớm được ban hành. Vì lúc này, hệ số rủi ro đối với các khoản vay BĐS đã tăng từ 150% lên 250% và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn cũng bị giảm bớt, chính vì thế các ngân hàng sẽ phải tính toán lại khoản cho vay vào BĐS.
Cầu về vốn BĐS của thị trường luôn có và dần tăng cao, thậm chí với cả cá nhân vay vốn mua nhà. Nhưng nếu sản phẩm chủ đầu tư đưa ra có mức giá cao so với nhu cầu thực và mặt bằng lãi suất nhích lên sẽ tác động đến dư nợ lĩnh vực này. Hơn nữa, tuy gói ưu đãi 30.000 tỷ đồng đã được Chính phủ cho phép giải ngân hết, song lượng vốn còn lại là không nhiều và thời hạn cũng đã dần hết.
(Theo Đầu tư chứng khoán) 

Rất cần một gói tín dụng tương tự gói 30.000 tỷ đồng

Trước những thông tin đa chiều về gói ưu đãi tín dụng 30.000 tỷ đồng, phóng viên đã có cuộc phỏng vấn nhanh với ông Doãn Thế Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên.


Cần có một gói tín dụng tương tự gói 30.000 tỷ đồng để hỗ trợ
việc mua nhà của người thu nhập thấp
PV: Thưa ông Doãn Thế Cường, ông có đánh giá gì về vai trò của gói tín dụng 30.000 tỷ đồng đối với người vay xây, mua nhà ở xã hội trong thời gian vừa qua?
Ông Doãn Thế Cường: Có thể nhận thấy rất rõ sự hỗ trợ của Chính phủ, ngân hàng đối với đối tượng người thu nhập thấp thông qua gói ưu đãi tín dụng 30.000 tỷ đồng. Gói tín dụng này thiết thực bởi có mức lãi suất thấp, thời gian trả nợ được trải đều trong một khoảng thời gian dài là 15 năm. Như vậy, người thu nhập thấp vẫn đảm bảo được cuộc sống mà vẫn trả được nợ, lại cải thiện được vấn đề nhà ở.
Với mức lãi suất tối đa 6% thì các ngân hàng cũng có lợi và người đi mua nhà cũng có điểm tựa về tài chính để trả nợ dần. Điều này đã góp phần đảm bảo chính sách an sinh xã hội, trong đó có nhà ở xã hội cho công nhân viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang và người thu nhập thấp... Đồng thời, gói tín dụng này cũng góp phần thúc đẩy thị trường BĐS phát triển một cách lành mạnh, đồng bộ hơn ở cả phân khúc nhà thu nhập thấp và nhà ở thương mại theo những nhu cầu khác nhau của thị trường.
Hiện thông tin NHNN dừng triển khai gói tín dụng 30.000 tỷ đồng đang khiến chủ đầu tư dự án BĐS và người mua nhà rất hoang mang. Theo ông, có cần thiết phải có một gói tín dụng ưu đãi tương tự hay không?
Xét trên hiệu quả thực tế của gói 30.000 tỷ đồng trong thời gian qua thì rất cần thiết có một gói tín dụng tương tự, có thể là gói 30.000 tỷ, hoặc 20.000 tỷ. Mức lãi suất của gói này có thể từ 5 - 7%, thời gian vay kéo dài 10 -15 năm. Như vậy, người thu nhập thấp có điều kiện vay mua nhà và trả nợ dần một cách ổn định, yên tâm. Điều đó cũng tạo đầu ra ổn định, rõ ràng cho các doanh nghiệp xây nhà ở xã hội. Từ đó, có thể góp phần khiến cho thị trường nhà ở thương mại phát triển lành mạnh và “ấm” hơn trong thời gian tới, phát triển đồng bộ với sự "ấm" dần lên của thị trường BĐS nói chung.
Theo tôi, NHNN có dừng triển khai gói tín dụng 30.000 tỷ đồng thì nên tham mưu với Chính phủ dành một khoản tín dụng khác để tiếp tiếp tục ưu đãi cho những người đang có nhu cầu vay mua nhà ở xã hội.
Ông có đánh giá như thế nào về nguồn cung cũng như nhu cầu nhà ở xã hội hiện nay?
Nhà ở dành cho đối tượng người thu nhập thấp là phân khúc mà trong thời điểm nào cũng có nguồn cầu khá lớn. Nhu cầu này là nhu cầu tất yếu của xã hội và tương đối ổn định. Trong thời điểm hiện tại cũng như trong thời gian tới, không chỉ ở những đô thị lớn mà ngay ở khu vực nông thôn, việc chăm lo nhà ở cho công nhân viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động khác cũng rất quan trọng. Vì vậy, Nhà nước, chính quyền các địa phương cần tiếp tục có ưu đãi về giá thuê đất, dành quỹ đất để làm nhà ở xã hội.
Xin cảm ơn ông!
(Theo Báo Xây dựng Online) 

Đây là thời điểm thuận lợi để mua BĐS tại Việt Nam

Theo Thời báo Tài chính (Anh) nhận định, đây là thời điểm mà giới đầu tư nước ngoài nên khẩn trương tính đến việc mua bất động sản tại Việt Nam, bởi thị trường này đang có nhiều cơ hội thuận lợi.

Từ tháng 7/2015, một số đạo luật mới hoặc sửa đổi đã bắt đầu có hiệu lực, giúp mở cửa nhanh chóng thị trường bất động sản ở (BĐS) Việt Nam.
Theo đó, bất cứ người nước ngoài nào có thị thực hợp lệ, dù là thường trú hay khách du lịch thì đều có thể mua BĐS với thời hạn sở hữu 50 năm và được gia hạn nếu muốn.
Cá nhân hay tổ chức nước ngoài được phép mua và sở hữu không quá 30% tổng số căn hộ tại một tòa nhà chung cư và tối đa 250 căn nhà tại một đơn vị hành chính cấp phường. Tuy nhiên, những quy định này không áp dụng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Nhờ những quy định mới thông thoáng hơn mà thị trường BĐS đã bắt đầu khởi sắc. Song, một số nhà đầu tư vẫn tỏ ra thận trọng trước thời cơ này.
Đây là thời điểm mà giới đầu tư nước ngoài nên khẩn trương tính đến
việc mua BĐS tại Việt Nam. Ảnh minh họa.
Năm 2008, giá nhà đạt tốc độ tăng trưởng 110% so với năm trước đó và cán đỉnh trong bối cảnh thị trường BĐS luôn "nóng." Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát đã khiến "bong bóng" BĐS cũng vỡ theo.
Trong những năm sau đó, thị trường BĐS lâm vào tình trạng "đóng băng."
Giám đốc điều hành Công ty CBRE Việt Nam Marc Townsend miêu tả, các công ty đều án binh bất động, các nhà thầu không có việc, cần cẩu đứng im lìm trong khi giới ngân hàng gãi đầu, gãi tai.
Từ cuối năm 2014, dấu hiệu của đà phục hồi bắt đầu xuất hiện nhờ tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, lương tăng và tầng lớp trung lưu ngày càng được mở rộng. Việt Nam hiện có 65 dự án đang xây dựng hoặc chuẩn bị khởi công và 38 sân golf trên toàn quốc.
Dự báo, năm 2025 sẽ có 50% dân số Việt Nam sống tại các khu đô thị, thành phố. Hiện tại, cần cẩu lại mọc lên tại nhiều dự án xây dựng chung cư cao tầng ở Tp.HCM, kéo theo những khu nhà cho công nhân.
Ông Fraser Wilson, Trưởng nhóm BĐS của tập đoàn Dragon Capital đánh giá, mức cầu trên thị trường BĐS đang mạnh hơn bất kỳ thời điểm nào kể từ năm 2007 đến nay.
Nếu so với các nước khác ở châu Á thì thị trường BĐS Việt Nam vẫn có lợi thế cạnh tranh hơn về giá.
Tại trung tâm Sài Gòn, giá BĐS cao cấp dao động từ 3.000 USD - 5.000 USD/m2, như vậy là thấp hơn nhiều so với mức 9.375 USD/m2 ở Bangkok (Thái Lan). Có thể thấy, thị trường BĐS ở Việt Nam đang chuyển dịch từ một thị trường sơ khai sang một nơi để đầu tư.
Trong khi đó, Việt Nam lại có tiềm năng trở thành một điểm đến của du lịch toàn cầu. Việc này sẽ góp phần thúc đẩy hơn nữa thị trường BĐS khi giới đầu tư nước ngoài quyết định đổ vốn vào Việt Nam.
(Theo Vietnam+) 

Từ 2019 trở đi, lượng cầu bất động sản sẽ vượt cung

Theo dự báo của TS Lê Xuân Nghĩa, hiện nay thị trường bất động sản (BĐS) phát triển ổn định chưa thể có bong bóng trong 5 năm tới. Nhưng từ năm 2019 trở đi, nhu cầu BĐS sẽ nhiều hơn nguồn cung.


TS Lê Xuân Nghĩa
Tại Hội thảo “Tìm kiếm nguồn vốn cho thị trường BĐS 2016” diễn ra vào sáng nay (23/3) tại Hà Nội, TS Lê Xuân Nghĩa đã có bài tham luận xung quanh vấn đề ngân hàng và chính sách tín dụng cho thị trường BĐS.
Ông Nghĩa cho rằng, thị trường BĐS luôn gắn chặt với thị trường tài chính, không chỉ là thanh khoản mà còn là bệ đỡ của thị trường này với tư cách là tài sản đảm bảo của trên 70% tín dụng ngân hàng. Do đó, thị trường BĐS có tính chu kì rất rõ ràng và gắn với chu kì tăng trưởng kinh tế.
Theo ông Nghĩa, thị trường BĐS hiện đang phục hồi trong bối cảnh hoàn toàn khác trước đây, bền vững hơn, ổn định hơn và không có dấu hiệu bong bóng ít nhất là trong vòng 5 năm tới.
Vì vậy ông Nghĩa cho rằng, việc siết chặt tín dụng nói chung và tín dụng BĐS vào thời điểm này là chưa cần thiết, mà thay vào đó cần kiểm soát tín dụng hiệu quả hơn, chẳng hạn tín dụng cho người có liên quan với ngân hàng, tín dụng cấp cho các dự án mà nhà đầu tư không có tiềm lực tài chính (như luật Kinh doanh BĐS đòi hỏi phải có bảo lãnh ngân hàng,…), tín dụng chảy vào các dự án không hiệu quả, tín dụng đen và đặc biệt là xử lý nợ xấu.
TS Lê Xuân Nghĩa bày tỏ quan điểm, giả sử muốn cảnh báo ngân hàng và thị trường thì chỉ cần nâng hệ số rủi ro cho vay BĐS lên 200%, còn 250% là mức cao nhất thế giới rồi, sau này không còn dư địa điều chỉnh. Bên cạnh đó, nên duy trì tăng trưởng tín dụng không quá 20%/năm và tỷ lệ tiền gửi trên tiền cho vay không quá 80% là được.
“Để tiếp tục hỗ trợ cho phục hồi nền kinh tế và thị trường BĐS thì chính sách tiền tệ nên được nới lỏng một cách hợp lý, phải có tầm nhìn chiến lược để ổn định lãi suất và linh hoạt tỷ giá hối đoái một cách khoa học, bài bản. Thắt chặt tín dụng sẽ đẩy lãi suất tăng. Trong trường hợp để lãi suất tiếp tục tăng lên thì toàn bộ nỗ lực về phục hồi kinh tế, phục hồi của doanh nghiệp và tái cấu trúc ngân hàng có nguy cơ không thể đạt được”. - ông Nghĩa cho biết.
Hơn nữa, chính sách đưa ra phải trên cơ sở nghiên cứu và tính toán cụ thể, nếu không sẽ gây méo mó thị trường. Ông Nghĩa cho hay, hiện đã thiết lập mô hình dự báo về thị trường BĐS. Bước đầu nhận thấy, tính cả tác động của TPP thì năm 2018, thị trường BĐS sẽ cân bằng cung cầu (hiện tại cung đang nhiều hơn cầu). Từ năm 2019 trở đi, cầu BĐS sẽ nhiều hơn cung.
Trước câu hỏi vì sao 3 năm tới cầu BĐS sẽ vượt qua cung, ông Nghĩa giải thích rằng, dưới tác động của TPP sẽ có khoảng 2,5 - 3 triệu người từ nông thôn ra thành phố, cùng với đó là hàng vạn công nhân, kỹ sư nước ngoài vào nên nhu cầu nhà ở sẽ rất lớn ở nhiều phân khúc.
Trong khi đó, số lượng dự án cũ không còn nhiều hoặc có dự án nhưng không được ngân hàng bảo lãnh, còn dự án mới cũng sẽ ít đi do đất đai đã bị co hẹp và tiềm lực tài chính của nhà đầu tư cũng hạn hẹp.
Chính vì vậy, ông Nghĩa cho biết, số lượng nguồn cung BĐS từ năm 2019 trở đi sẽ giảm dần trong khi cầu tăng lên. Với cung – cầu này, cách đây vài tháng chúng tôi dự báo thị trường BĐS năm 2023 sẽ tăng nóng. Nhưng tính toán gần đây lại cho thấy, có thể thị trường sẽ nóng sớm hơn, bắt đầu từ năm 2021.
(Theo Trí thức trẻ) 

Doanh nghiệp BĐS Việt Nam yếu thế khi cạnh tranh với khối ngoại

Giới chuyên gia đều cho rằng, những hiệp định thương mại vừa ký kết thời gian qua tuy sẽ mang lại cho nền kinh tế Việt Nam cơ hội phát triển đầy hứa hẹn nhưng đồng thời nó cũng tạo ra môi trường cạnh tranh và áp lực gay gắt hơn cho doanh nghiệp Việt.

Dù có lợi thế chủ nhà nhưng sức cạnh tranh của doanh nghiệp nội được đánh giá là khó có thể bằng được các doanh nghiệp nước ngoài. Một khi các hiệp định thương mại phát huy tác dụng, thị trường bất động sản sẽ thu hút nguồn vốn đầu tư mới, tuy nhiên với tiềm lực hiện tại của nhiều doanh nghiệp cùng với những hạn chế trong chính sách quản lý, khối nội sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức khó khăn trong thời gian tới.
Nhận xét về những thuận lợi và hạn chế của doanh nghiệp nội khi chính phủ thông qua các hiệp định thương mại, trong buổi hội thảo Triển vọng đầu tư 2016 - Sự trở lại của BĐS do kênh tài chính FBNC tổ chức tại Tp.HCM, ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright cho rằng , nếu xét trên nội dung  ký kết của các các hiệp định thương mại quốc tế vừa qua thì doanh nghiệp nước ngoài là đối tượng được hưởng lợi nhiều hơn cả. Nếu nhìn vào cam kết và sức ép trong quá trình đàm phán hiệp định dễ dàng thấy rằng nhà đầu tư nước ngoài được bảo vệ quyền lợi và hưởng các chính sách hoạt động tốt hơn. Cụ thể như các chính sách trong chương về đầu tư của nhiều hiệp định được phê chuẩn để đảm bảo khả năng tiếp cận tốt hơn của doanh nghiệp nước ngoài khi vào thị trường Việt Nam. Đơn cử như doanh nghiệp nước ngoài  được luật pháp quốc tế bảo vệ, họ có quyền khiếu kiện ra trọng tài quốc tế nếu như cấp lãnh đạo kể cả trung ương và địa phương có vi phạm quản lý, trong khi đó doanh nghiệp nội lại không được hưởng những lợi thế này mà phải hoạt động theo luật Việt Nam.
Doanh nghiệp BĐS khối ngoại có nhiều lợi thế hơn doanh nghiệp trong nước sau khi các hiệp định thương mại được ký kết. Ảnh minh họa
Đồng tình với quan điểm trên, ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương nhìn nhận, khi hiệp định kinh tế phát huy tác dụng, cơ hội phát triển sẽ chia đều cho cả doanh nghiệp nội và ngoại nhưng thách thức thì các doanh nghiệp trong nước sẽ đối mặt nhiều hơn. Muốn tận dụng được cơ hội và hóa giải thách thức, cần phải có sự đồng hành giữa nhà nước và doanh nghiệp. Nhà nước cần phải cạnh tranh bằng thể chế, doanh nghiệp thì cần phải cạnh tranh bằng chất lượng. Tuy cả hai cần đồng hành bên nhau nhưng nhà nước luôn phải đi tiên phong trong việc cải cách thể chế. 
 Về câu chuyện hỗ trợ, các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề cũng lên tiếng cho rằng, họ cần các chính sách hỗ trợ một cách dài hơi để nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong khi đó các chính sách hỗ trợ hiện nay rất tràn lan. Tức là các biện pháp đa phần chỉ tập trung giải quyết những vấn đề nảy sinh trước mắt, mang tính tình thế. Trên thực tế, với năng lực của nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp đang rất cần sự hỗ trợ để có thể đứng vững trước làn sóng hội nhập. Vấn đề là làm sao để các biện pháp hỗ trợ đó được thực hiện trong khuôn khổ những gì đã cam kết.
Bàn về vấn đề cạnh tranh và thu hút nhà đầu tư ngoại, luật sư Trương Thị Hòa, Đoàn Luật sư Tp.HCM chia sẻ, quan trọng nhất là các doanh nghiệp nội cần cạnh tranh bằng chính chất lượng sản phẩm. Bên cạnh việc yêu cầu các chính sách hỗ trợ từ nhà nước, bản thân doanh nghiệp cũng phải tự giúp lấy mình. Nhà đầu tư châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc đang ngày càng quan tâm nhiều đến thị trường Việt Nam, tuy nhiên họ đều là những nhà đầu tư, những khách hàng khó tính, yêu cầu đặt ra cho một sản phẩm tương đối cao và tất nhiên là thói quen tiêu dùng cũng  không dễ chấp nhận như người Việt. Nếu nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì phương thức hoạt động thiếu chuyên nghiệp như hiện tại thì rất khó để tiếp cận khách hàng chứ không nói đến cạnh tranh hay thu hút nhà đầu tư ngoại. Vì vậy bước đầu tiên là doanh nghiệp Việt cần hiểu rõ văn hóa trong sinh hoạt của nhà đầu tư, nâng cao yếu tố chất lượng và chuyên nghiệp hóa trong giao dịch.
Kêu gọi nguồn đầu tư từ nước ngoài là rất cần thiết, trong tương lai việc thu hút nguồn vốn mới đến từ những doanh nghiệp quốc tế, từ khách ngoại sẽ giúp thị trường tích cực hơn. Không chỉ BĐS mà các ngành công nghiệp phụ trợ cũng sẽ ăn nên làm ra nếu biết tận dụng thời cơ. Thị trường mở cửa đồng nghĩa với nhu cầu mua và sở hữu nhà ở của người nước ngoài sẽ tăng, đặc biệt đối với phân khúc căn hộ trung, cao cấp tại các đô thị lớn. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nguồn tài chính mạnh sẽ nhận chuyển nhượng lại các dự án của các doanh nghiệp trong nước mà lâu nay không đủ khả năng để triển khai hoặc triển khai chậm tiến độ. Tuy nhiên, bản thân các doanh nghiệp BÐS trong nước cũng sẽ phải tái cơ cấu đầu tư, nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp để đủ sức cạnh tranh ngay chính trên sân nhà.
Các hiệp định chắc chắn sẽ mang lại cho thị trường nhiều cơ hội, tuy nhiên trên thương trường tự nó không biến thành lợi ích, để có thể vượt qua được thách thức là tùy thuộc vào khả năng của chính doanh nghiệp. Theo đó, để đủ năng lực cạnh tranh với khối ngoại, bên cạnh sự hỗ trợ từ các chính sách, bản thân doanh nghiệp cũng cần gia tăng tính chuyên môn hóa và chất lượng dịch vụ.
Phương Uyên
(Theo Nhịp sống thời đại)